Uống nghệ là bao tử hết đau, liệu có đúng không?

Tại sao uống nghệ nhiều nhưng dạ dày vẫn đau?

Chia sẻ về quá trình và sự nỗ lực, cố gắng trong chữa bệnh đau dạ dày của Anh Nguyễn Hoài Đ.( Bắc Giang), vợ - bà Lê Thúy H. khiến nhiều người thán phục. Chị H, cho biết, do công việc kinh doanh nên cả 2 vợ chồng chị ăn uống thất thường, gặp đâu ăn đó nên cả 2 đều bị đau dạ dày do viêm loét dạ dày đã lâu, lại sợ bị tác dụng phụ do các thuốc giảm tiết acid, kháng sinh gây ra như giòn xương, viêm gan, suy thận và biến chứng nặng nề nhất là ung thư dạ dày. Nên vài năm lại đây chị nghe mách dùng loại thảo dược gì là chị đều làm theo, chị nhờ họ hàng ở quê tìm kiếm. Cách đây 3 năm, chị nghe nói dùng nghệ và mật ong để viên uống. Chị về quê lây cả bao nghệ và mật ong thuê người làm để dùng dần. Cũng từ đấy vợ chồng chị kiên trì sử dụng bột nghệ và mật ong hàng ngày để tránh tái phát bệnh. Tuy nhiên, anh chị đã uống hàng chục cân bột nghệ, triệu chứng thì có đỡ, nhưng không thể khỏi hẳn được, thỉnh thoảng những cơn đau dạ dày cấp lại hành hạ khiến công việc bị lỡ kế hoạch và cả vợ chồng mất ăn mất ngủ. Chị H cho biết, mới đây 5 tháng chị nghe người bạn cùng trong kinh doanh mách dùng loại viên nghệ nang bào chế tinh nghệ Curcumin dưới dạng lỏng cô đặc nên chị dùng thử thực sự thấy hiệu quả.

Đau dạ dày uống nghệ, phải dùng đúng cách

Thực tế rất nhiều công trình nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng đã cho thấy trong nghệ có curcumin – hoạt chất chính tạo nên màu vàng của nghệ có hiệu quả cao với bệnh viêm loét dạ dày – tá tràng do có tác dụng ức chế vi khuẩn HP, làm giảm tiết dịch vị, tăng tiết chất nhầy, phục hồi nhanh các tổn thương và giúp bảo vệ niêm mạc dạ dày.

Với nhiều tác dụng như vậy nhưng do bột nghệ chỉ có 3-10% curcumin, nên với liều 2-3 thìa bột nghệ, không thể đạt liều khuyến cáo của các chuyên gia y tế 4-8g curcumin/ngày để đủ phát huy hiệu quả. Đấy chính là lý do tại sao nhiều bệnh nhân dạ dày uống tới hàng chục kg bột nghệ trong nhiều năm mà vẫn không cải thiện.

Cũng do sinh khả dụng rất thấp khi sử dụng đường uống nên Curcumin không được ứng dụng nhiều cho đến khi các nhà khoa học sản xuất thành công tinh nghệ nano giúp hấp thu nhanh vào máu và tế bào, giúp nâng được sinh khả dụng của curcumin lên tới trên 95%.

Vì vậy, các chuyên gia khuyến cáo, để người bệnh tiện lợi hơn giúp hỗ trợ điều trị bệnh đau dạ dày mà không thể dùng hàm lượng quá nhiều trong ngày là giải pháp công nghệ Nano Micelles, bào chế tinh nghệ Curcumin dưới dạng lỏng cô đặc có thể giúp chấm dứt những cơn đau dạ dày nhanh chóng và hiệu quả.

Công nghệ Micelles cải thiện toàn diện các yếu tố khả năng hấp thụ, tăng sinh khả dụng gấp 185 lần tinh nghệ thông thường.

Được sản xuất và ứng dụng công nghệ Micelles 100% từ Đức, Nghệ Micell ADIVA là thế hệ mới nhất hiện nay được xem là giải pháp đột phá hiệu quả trong phòng ngừa và hỗ trợ điều trị các bệnh mạn tính như: viêm loét dạ dày, hành tá tràng, viêm gan do bia rượu và phòng ngừa hình thành các tế bào ung thư cực kỳ hiệu quả.

Nghệ Micell ADIVA giúp người tiêu dùng có một giải pháp hiệu quả và tiện lợi hơn, cho người có nhu cầu muốn hỗ trợ điều trị bệnh đau dạ dày mà không thể dùng hàm lượng quá nhiều trong ngày. Nghệ Micell ADIVA sản xuất 100% tại Đức với công nghệ Nano - Micelles, bào chế tinh nghệ Curcumin dưới dạng lỏng cô đặc. Đặc biệt, Nghệ Micell ADIVA sử dụng tấm “áo giáp” vỏ nang Gelatin 100% chiết xuất từ thực vật tan sau 7 phút giúp tinh chất nghệ dễ dàng hấp thụ nhanh chóng vào cơ thể, vì vậy chỉ cần bổ sung 1 viên Nghệ Micell mỗi ngày cũng có thể giúp chấm dứt những cơn đau dạ dày nhanh chóng và hiệu quả.

Thanh Mai

Nghệ Micell ADIVA - Giải pháp chuyên biệt cho người đau dạ dày

Được sản xuất và ứng dụng công nghệ micelles 100% từ Đức, đột phát vỏ nang Gelatin chiết xuất từ thực vật, sinh khả dụng gấp 185 lần. Bổ sung mỗi ngày 1 viên Nghệ Micell ADIVA, giải pháp bảo vệ hiệu quả sức khỏe dạ dày, giúp giảm tổn thương niêm mạc dạ dày, chấm dứt những cơn đau dạ dày nhanh chóng và hiệu quả.

Truy cập website:ADIVA.COM.VN hoặc liên hệ: 1900 555 552

Sản phẩm có bán tại nhà thuốc, siêu thị trên toàn quốc.

Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.

Thực phẩm nên ăn hàng ngày để phòng ngừa đau tim

Nghệ

Nghệ chứa curcumin có tác dụng bảo vệ tim. Chiết xuất từ nghệ được biết là giúp giảm cholesterol LDL và ngăn ngừa tích tụ mảng bám ở động mạch.

Tỏi

Tỏi được chứng minh là giúp phòng bệnh tim, làm chậm tình trạng xơ vữa động mạch và giảm huyết áp. Tỏi cũng có tác dụng tốt trong phòng ngừa tích tụ mảng bám động mạch và là thực phẩm hàng đầu để ngăn ngừa đau tim.

Gừng

Gừng có đặc tính chống ôxy hóa, chống viêm và chứa các hợp chất giúp bảo vệ tim. Chiết xuất từ gừng giúp ngăn ngừa tắc nghẽn mạch máu và phòng ngừa đau tim.

Ớt

Ớt chứa capsaicin giúp giảm nồng độ cholesterol LDL một cách tự nhiên và giảm nguy cơ đau tim, đột quỵ, cải thiện tuần hoàn máu.

Chanh

Chanh có tác dụng giảm nồng độ cholesterol, ngăn ngừa tổn thương do ôxy hóa và bảo vệ động mạch. Chanh còn giàu vitamin C giúp giảm viêm và tăng cường hệ miễn dịch.

Quế

Quế giúp giảm các yếu tố nguy cơ liên quan đến xơ vữa động mạch và bệnh tim. Dùng 6g quế mỗi ngày có thể giúp giảm nồng độ cholesterol LDL và triglyceride.

Hạt lanh

Hạt lanh chứa nhiều chất xơ giúp ngăn ngừa tắc nghẽn động mạch. Ngoài ra, loại hạt này còn chứa acid béo omega-3 giúp giảm huyết áp và chống viêm. Đây là một trong những thực phẩm hàng đầu để phòng ngừa đau tim.

Bắp cải lên men

Bắp cải lên men chứa các hợp chất có tác dụng ngăn ngừa xơ vữa động mạch chủ, làm sạch động mạch và phòng ngừa đau tim.

Nước ép lựu

Nước ép lựu chứa acid punicic giúp ngăn ngừa tắc nghẽn động mạch tự nhiên và chống xơ vữa động mạch. Ngoài ra, lựu còn chứa các dưỡng chất tốt cho tim như selen và magiê.

BS P.Liên

(Theo Boldsky)

Công cụ chỉnh sửa gene hy vọng mới trong điều trị

Công cụ chỉnh sửa gene gọi là CRISPR - được lấy từ một protein của vi khuẩn - cho phép các nhà khoa học cắt và dán các phần ADN (phạm vi trong phòng thí nghiệm) mở ra một hướng mới hy vọng có thể chữa trị các bệnh nguy hiểm như ung thư, HIV, chứng loạn dưỡng cơ, bệnh Huntington hay mù lòa...

Ðiều trị ung thư

Tháng 10/2016, một bệnh nhân ung thư phổi ở Trung Quốc đã trở thành người đầu tiên trong số 10 người trên thế giới được thử nghiệm tiêm các tế bào đã được sửa đổi bằng CRISPR. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật CRISPR để “tắt” hoạt động của gene, thứ đang ngăn cản cơ thể bệnh nhân chống lại căn bệnh ung thư của mình. Trong khi đó, các nhà khoa học Mỹ cũng đang đề xuất một nghiên cứu tương tự sẽ được thực hiện tại Đại học Pennsylvania để tiến hành thử nghiệm lâm sàng trên 18 bệnh nhân ung thư u hắc tố - ung thư da - giai đoạn cuối, sarcoma - một loại ung thư mô miền và đa u tủy - ung thư tủy xương. Đối với thử nghiệm lâm sàng này, các nhà nghiên cứu sẽ sử dụng CRISPR để thay đổi 3 trong các tế bào miễn dịch của bệnh nhân với hy vọng các tế bào này sẽ tiêu diệt các tế bào ung thư trong cơ thể.

Tiêu diệt HIV

Tháng 5/2017, các nhà khoa học tại Trường Y Lewis Katz, Đại học Temple và Đại học Pittsburgh ở Hoa Kỳ đã sử dụng công nghệ chỉnh sửa gene CRISPR để phát hiện virut từ các tế bào mà nó lây nhiễm và ngăn không cho nó nhân bản. Tác giả chính, TS. Wenhui Hu cho biết, có thể xóa toàn bộ gene virut HIV-1 khỏi các mô trong cơ thể. Đây là lần đầu tiên bệnh AIDS được chữa khỏi hoàn toàn trên động vật nhờ công nghệ chỉnh sửa gene Crispr. Nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí Molecular Therapy.

Chữa trị bệnh Huntington

Theo Tổ chức Huntington’s Disease Society of America, có khoảng 30.000 người ở Mỹ mắc căn bệnh Huntington - một chứng rối loạn di truyền gây tử vong. Tháng 6/2017, các nhà khoa học tại Đại học Emory, Atlanta và Viện Khoa học Trung Quốc đã công bố họ có thể đảo ngược căn bệnh Huntington trên chuột thí nghiệm để tạo ra gene Huntingtin đột biến. Sau khi tạo ra gene đột biến này, số lượng các mảnh độc hại giảm xuống trong não bộ chuột, các nơron thần kinh bắt đầu lành. Những con chuột lấy lại được mức độ kiểm soát, cân bằng. Mặc dù hiệu suất khi làm một số công việc không được tốt như chuột khỏe mạnh nhưng kết quả cho thấy CRISPR có khả năng chữa trị bệnh Huntington.

Chống lại bệnh teo cơ Duchenne

Chứng loạn dưỡng cơ Duchenne là một tình trạng suy nhược phát triển do một đột biến trong một gene duy nhất được gọi là gene dystrophin, một trong những gene dài nhất trong cơ thể. Một nhóm các nhà khoa học tại Đại học Texas do GS. Eric Olson dẫn đầu đã dùng CRISPR để chống lại chứng loạn dưỡng cơ Duchenne. Kết quả nghiên cứu được công bố vào tháng 4/2017 trong Tạp chí Science Advances. Các nhà khoa học sử dụng một biến thể của công cụ chỉnh sửa gene CRISPR được gọi là CRISPR-Cpfl để điều chỉnh đột biến gây ra chứng loạn dưỡng cơ Dunchenne.

Ngăn ngừa chứng mù lòa

Theo Viện Y tế Quốc gia, một trong những nguyên nhân phổ biến của chứng mù lòa là tình trạng bệnh hoại vị bẩm sinh của Leber, ảnh hưởng đến 2-3/100.000 trẻ sơ sinh. Công ty Công nghệ sinh học Editas, Massachusetts đang nghiên cứu phương pháp trị liệu dựa trên CRISPR để đảo ngược bệnh hoại vị bẩm sinh Leber.

Giảm đau mạn tính

Đau mạn tính không phải bệnh di truyền nhưng các nhà khoa học đang nghiên cứu công nghệ chỉnh sửa gene CRISPR để kiềm chế đau lưng, khớp bằng cách thay đổi gene để giảm viêm. Vào tháng 3/2017, GS. Robby Bowles, Đại học Utah đã dẫn lời báo cáo rằng, họ sử dụng CRISPR để ngăn ngừa một số tế bào sản xuất các phân tử phá vỡ các mô. Kỹ thuật này có thể được sử dụng để trì hoãn thoái hóa mô sau khi phẫu thuật hồi phục, điều này giúp giảm nhu cầu phẫu thuật bổ sung để sửa chữa tổn thương mô.

Ngăn ngừa sốt rét

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, có khoảng 212 triệu ca sốt rét năm 2016 và khoảng 429.000 ca tử vong do căn bệnh này. Các nhà nghiên cứu tại Imperial College Lodon đã biến đổi gene đối với muỗi đực để tạo ra nhiều con đực hơn và biến đổi gene ở muỗi cái khiến chúng giảm khả năng sinh sản. Vào tháng 12 vừa qua, các nhà khoa học công bố trên tạp chí Nature rằng họ đã xác định được 3 gene để giảm khả năng sinh sản của muỗi cái.

Chỉnh sửa phôi thai người

Mới đây, các nhà khoa học Trung Quốc đã công bố kết quả nghiên cứu biến đổi gene đơn bội trên phôi người. Họ tìm cách xóa bỏ các đột biến gene gây mầm bệnh thiếu máu bẩm sinh Thalassemia bằng kỹ thuật CRISPR - Cas9. Căn bệnh thiếu máu bẩm sinh này gây nguy hiểm đến tính mạng do đột biến gene tác động đến việc tạo huyết cầu tố, loại protein chủ đạo trong việc vận chuyển ôxy, trong đó có hồng cầu. Do đó, trong huyết cầu tố bị thiếu chuỗi amenieamin, loại chuỗi beta. Sự khiếm khuyết này dẫn đến việc hủy hoại các tế bào hồng cầu cũng như thiếu hụt các tế bào máu. Tuy nhiên, thí nghiệm này đã vấp phải sự phản đối của giới di truyền học cũng như các nhà đạo đức học. Bởi trong số 86 phôi người ban đầu, sau khi qua phân tích, xử lý kết quả chỉ có 7 phôi sống sót chứa các tế bào đã chỉnh sửa gene. Vì tế bào người mang cấu trúc khảm, tức là chúng bao gồm một số tế bào mà ADN đã được chỉnh sửa và số khác vẫn luôn mang gene khuyết tật. Theo các nhà khoa học trên thế giới, những rủi ro việc sửa đổi gene thực hiện không chính xác có thể dẫn đến việc tạo ra những cá thể không đúng với mục đích ban đầu.

Minh Huệ

((Theo LS, 6/2017))

Dấu hiệu nhận biết và cách điều trị bệnh ung thư phổi

Nguyên nhân gây ung thư phổi

Trong lịch sử, y văn thế giới đã ghi nhận bệnh ung thư phổi rất ít khi xảy ra cho đến khi thuốc lá xuất hiện. Đây là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư phổi. Cứ 10 người ung thư phổi thì có tới 9 trường hợp liên quan đến thuốc lá, do hút thuốc chủ động hoặc bị động (hít phải khói thuốc lá).

Ngoài ra còn một số nguyên nhân có thể gây ung thư phổi là do ô nhiễm môi trường, hóa chất, hoặc do hít phải khí radon. Khí radon là loại khí sinh ra từ sự phân rã phóng xạ urani. Loại khí này có ở hầu khắp mọi nơi trong lớp vỏ trái đất, nó thoát ra ngoài qua các vết rạn và lỗ trống rất nhỏ trên mặt đất và khuyếch tán vào không khí. Khí radon không thể nhìn thấy bằng mắt thường nhưng có thể xác định được bằng máy đo chuyên dụng.

Phổi hoạt động như thế nào

Phổi ở người bao gồm nhiều sợi lông mao nhỏ, những sợi lông này bảo vệ phổi quét sạch các độc tố, vi khuẩn từ bên ngoài vào đường hô hấp. Khi hút thuốc, khói thuốc lá làm các lông mao bị vô hiệu hóa chức năng của mình, các hóa chất trong thuốc lá xâm nhập vào phổi và gây bệnh.

Các triệu chứng của ung thư phổi

Những dấu hiệu đầu tiên của bệnh ung thư phổi bắt đầu lặng lẽ, thường là không có triệu chứng hoặc dấu hiệu cảnh báo trong giai đoạn đầu. Khi bệnh trở nên nặng hơn, các triệu chứng có thể xuất hiện bao gồm:

- Ho dai dẳng.

- Đau ngực, đặc biệt là khi hít thở sâu.

- Thở khò khè hoặc khó thở.

- Ho có đờm hoặc máu.

- Mệt mỏi.

Sàng lọc ung thư phổi

Ung thư phổi có thể được phát hiện sớm bằng chụp CT. Ở Mỹ, có một số đối tượng được khuyên đi sàng lọc ung thư phổi như những người hút thuốc hay có người thân nghiện thuốc, sống trong môi trường ô nhiễm, những người từ 55 đến 80 tuổi được khuyến cáo đi sàng lọc ung thư phổi. Nếu bệnh nhân có tiền sử hút thuốc lá nên định kỳ đi kiểm tra sức khỏe phổi. Ở những người trẻ nếu dừng hút thuốc trong vòng 15 năm có thể ngừng khám sàng lọc ung thư phổi.

Chẩn đoán ung thư phổi

Trong hầu hết các trường hợp, khi bác sĩ nghi ngờ bệnh nhân mắc ung thư phổi với các triệu chứng điển hình như ho mãn tính hoặc thở khò khè, lúc đó, bác sĩ sẽ cho người bệnh đi chụp X-quang hoặc các xét nghiệm hình ảnh khác. Bệnh nhân cũng có thể được yêu cầu xét nghiệm đờm. Nếu một trong các xét nghiệm cho thấy xuất hiện dấu hiệu của ung thư, bước tiếp theo bác sĩ sẽ tiến hành sinh thiết phổi.

Các loại ung thư phổi

Có hai loại chính của ung thư phổi là ung thư phổi tế bào nhỏ và ung thư phổi không phải tế bào nhỏ. Ung thư phổi tế bào nhỏ là loại ung thư phát triển nhanh, nó có thể lây lan nhanh đến các bộ phận khác của cơ thể. Loại ung thư này thường xuất hiện ở người sử dụng thuốc lá và hiếm thấy ở người không hút thuốc. Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ phát triển chậm hơn và phổ biến hơn, đây là loại ung thư ít xâm lấn hơn loại trên. Trong các bệnh ung thư phổi có đến 85% những người ung thư phổi thuộc loại ung thư không tế bào nhỏ. Loại ung thư này nếu phát hiện sớm, phẫu thuật, xạ trị hay hóa trị có thể chữa khỏi căn bệnh này.

Các giai đoạn ung thư phổi

Mỗi loại ung thư phổi có cách xâm lấn khác nhau trong cơ thể. Như ung thư phổi tế bào nhỏ được chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn giới hạn có nghĩa là ung thư được giới hạn trong một phổi và các hạch bạch huyết có thể ở gần vị trí khối u. Giai đoạn ung thư lan rộng có nghĩa là ung thư đã lan rộng khắp phổi hoặc ra các bộ phận khác. Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ được chia thành từ 1 đến 4 giai đoạn, tùy thuộc vào việc khối u lan rộng đến đâu.

Tuổi thọ của bệnh nhân ung thư phổi đang ngày càng tăng lên

Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng như công nghệ y dược học, thời gian sống của bệnh nhân ung thư phổi đang được kéo dài hơn so với trước. Thống kê mới nhất của Viện Ung thư Quốc gia của Mỹ cho thấy từ năm 2004 đến năm 2010, những người được chẩn đoán ung thư phổi sống sau 5 năm tăng từ 4% lên 54%, tùy thuộc vào giai đoạn của bệnh.

Các cách điều trị ung thư phổi

Nếu bệnh nhân mắc ung thư phổi không phải tế bào nhỏ được phát hiện trước khi nó lan sang các bộ phận khác của cơ thể hoặc mới chỉ xuất hiện ở một bên phổi, phẫu thuật là biện pháp tốt nhất. Các bác sĩ phẫu thuật có thể loại bỏ phần có khối u. Một số bệnh nhân được xạ trị hoặc hóa trị sau phẫu thuật để diệt các tế bào ung thư còn lại. Đối với bệnh ung thư phổi tế bào nhỏ phẫu thuật dường như không có giá trị vì tại thời điểm chẩn đoán, ung thư có thể đã lan sang các cơ quan khác của cơ thể.

Khi ung thư phổi di căn

Khi ung thư phổi đã di căn các bác sĩ vẫn có thể chữa trị để giúp bệnh nhân kéo dài cuộc sống và có chất lượng cuộc sống tốt hơn. Bức xạ hoặc hóa trị liệu có thể thu nhỏ khối u và điều trị các triệu chứng, như đau xương hoặc khó thở. Hóa trị biện pháp duy nhất và thường xuyên được áp dụng ở các bệnh nhân bị bệnh ung thư phổi tế bào nhỏ.

Điều trị bằng phương pháp nhắm mục tiêu

Phương pháp điều trị nhắm mục tiêu là một phương thức điều trị mới của ung thư phổi, nó có thể được sử dụng cùng với hóa trị liệu hoặc khi các phương pháp điều trị khác không hiệu quả. Phương pháp nhắm mục tiêu là nhằm chặn các mạch máu tới nuôi dưỡng tế bào ung thư ở khối u. Nó có thể giúp bệnh nhân ung thư phổi sống lâu hơn. Phương pháp điều trị nhắm mục tiêu có thể làm gián đoạn các tín hiệu chịu trách nhiệm nhân lên trong tế bào ung thư trong hình ảnh ở trên.

Hải Yến

(Theo WebMD)

Dùng thuốc chống nấm miconazole và lưu ý

Tôi bị nấm Candida và tự mua thuốc chống nấm miconazol về dùng. Thấy tôi tự ý dùng thuốc, bạn tôi bảo thuốc này tốt nhưng không phải ai cũng dùng được và khuyên tôi nên đi khám. Vậy xin hỏi những trường hợp nào thì không dùng được thuốc này? Nếu dùng thuốc cần lưu ý gì?

Nguyễn Bảo An(Yên Bái)

Trong thư bạn không nói rõ bạn bị nấm Candida ở đâu và dùng dạng thuốc nào của miconazol (dạng bôi ngoài da hay dạng uống), vì thế tốt nhất bạn nên đi khám để được dùng thuốc thích hợp và có sự tư vấn cần thiết của bác sĩ.

Về tác dụng của thuốc, miconazol là một loại thuốc chống nấm, được dùng bôi tại chỗ điều trị các bệnh do nấm (nấm mắt, nấm ngoài da, nấm âm đạo, nấm đường tiêu hóa...), đặc biệt là nấm Candida (với loại nấm này, khi dùng miconazol bệnh có thể khỏi tới 80 - 90%). Trường hợp nhiễm nấm Candida ở miệng và đường tiêu hóa, dùng thuốc qua đường uống. Thuốc có tác dụng chống nấm bằng cách ức chế tổng hợp ergosterol ở màng tế bào nấm gây ức chế sự sinh trưởng của tế bào vi khuẩn nấm.

Những trường hợp đã bị dị ứng với thuốc này trước đó, người quá mẫn với thuốc, người mang thai, người có tổn thương gan hay rối loạn chuyển hóa porphyrin… không được dùng thuốc này để trị nấm.

Khi dùng ngoài, thuốc dung nạp tốt, nhưng đôi khi có thể gây kích ứng hoặc rát bỏng, ngứa, ban đỏ. Dùng uống có thể gây rối loạn tiêu hóa như buồn nôn, nôn, tiêu chảy... Cần thông báo cho bác sĩ biết về các triệu chứng này. Ngoài ra, với dạng kem bôi âm đạo và viên đặt âm đạo chứa miconazol có thể tương tác với các sản phẩm latex (màng ngăn tránh thụ thai và túi cao su), ảnh hưởng đến phương pháp tránh thai bằng các chất trên. Vì vậy, cần dùng biện pháp tránh thai khác trong thời gian dùng thuốc này trị nấm ở âm đạo.

DS. Hoàng Thu Thủy

Dùng thuốc cai rượu sao cho hiệu quả?

Nguyễn Thị Lý(Phú Thọ)

Naltrexone là thuốc dùng để chống tái nghiện ma túy nhóm opioid (thuốc phiện, morphin và heroin) rất hiệu quả. Tuy nhiên, trong quá trình điều trị chống tái nghiện ma túy bằng naltrexone, người ta nhận thấy thuốc này cũng có tác dụng cai rượu bằng cách làm cho bệnh nhân mất cảm giác thèm uống rượu.

Rượu sau khi được hấp thu vào cơ thể sẽ chuyển hóa thành aldehyde, chất này kết hợp với protein có trong máu thành một loại morphin nội sinh, chất này tác dụng lên não khiến cho bệnh nhân thèm uống rượu. Naltrexone khi vào cơ thể sẽ ức chế chất morphin nội sinh này, khiến cho bệnh nhân không còn thèm rượu, từ đó dẫn đến giảm lượng rượu uống rồi bỏ rượu.

Cai rượu bằng naltrexone cho hiệu quả khá chậm. Cụ thể là sau 1 tháng điều trị bằng naltrexone, bệnh nhân sẽ giảm được 50% lượng rượu uống mỗi ngày (ví dụ trước đây uống mỗi ngày 1 lít rượu 40 độ cồn thì sau 1 tháng chỉ còn uống được 500ml rượu cùng loại mỗi ngày). Sau 2 tháng điều trị, bệnh nhân giảm được 70% lượng rượu uống mỗi ngày (chỉ còn uống được 300ml rượu 40 độ cồn mỗi ngày). Sau 3 tháng điều trị, bệnh nhân căn bản kiểm soát được hành vi uống rượu của mình, có thể bỏ rượu hoàn toàn. Tuy nhiên, bệnh nhân cần được uống thuốc điều trị củng cố tiếp tục trong ít nhất 2 năm tiếp theo. Ưu điểm của phương pháp cai rượu bằng naltrexon: Bệnh nhân không phải ngừng rượu đột ngột (uống thuốc khi bệnh nhân vẫn đang uống rượu), do đó sẽ không có hội chứng cai rượu. Do không có hội chứng cai rượu nên có thể điều trị ngoại trú. Lượng rượu uống hàng ngày giảm từ từ, bệnh nhân sẽ dễ chấp nhận hơn. Có thể uống rượu (khi bắt buộc), mà không sợ bị các phản ứng khó chịu như đối với thuốc cai rượu khác (disulfiram).

Tuy nhiên, do thời gian cai rượu kéo dài nên naltrexone không có lợi cho bệnh nhân đã có biểu hiện suy gan, thận, tăng huyết áp, các bệnh não do rượu... Khó cai rượu tuyệt đối do bệnh nhân vẫn có thể uống được một lượng rượu nhỏ, hiệu quả không cao như dùng disulfiram.

Như vậy, thuốc naltrexone chỉ nên áp dụng cai rượu cho những người lạm dụng rượu, chưa có các biến chứng cơ thể như gan, thận, tim, mạch... và rất phù hợp với bệnh nhân tự nguyện cai rượu.

Thuốc naltrexone ít tác dụng phụ, dung nạp tốt, dễ sử dụng vì mỗi ngày chỉ cần uống 1 viên vào buổi sáng là đủ. Tuy nhiên, giá thành của thuốc không hề rẻ nên chưa thể áp dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng.

PGS.TS. Bùi Quang Huy

Các nhà khoa học phát triển thuốc tái lập trình tế bào chống ung thư

Các nhà nghiên cứu Úc đã phát triển một loại thuốc có khả năng tái lập trình hệ miễn dịch để chống lại ung thư. Tân Hoa xã cho hay liệu pháp mới này được tiến hành bởi Trung tâm Ung thư Peter MacCallum, bao gồm việc loại bỏ các tế bào miễn dịch khỏi cơ thể để làm tăng cường khả năng di truyền của chúng trước khi đưa chúng trở lại cơ thể để chống lại ung thư. Hình thức của liệu pháp miễn dịch trước đây đã có hiệu quả trong việc phòng chống ung thư máu nhưng các nhà khoa học do Phillip Darcy và Paul Beavisdẫn đầu đã lần đầu tiên tìm ra cách để cải thiện hiệu quả của nó chống lại các khối u rắn. Darcy cho biết, các tế bào miễn dịch tăng cường, còn được gọi là các tế bào CAR T, không hiệu quả đối với những khối u rắn mà có thể tạo ra một chất chuyển hóa gọi là adenosine phá huỷ các tế bào. Một số khối u thậm chí còn cho thấy khả năng đảo ngược một cách đơn giản những cải tiến đặt trên các tế bào khiến cho chúng trở lại các tế bào T có ít khả năng chống lại các khối u.

Các nhà nghiên cứu đã thành công trong việc thử nghiệm một loại thuốc ở chuột có tác dụngngăn chặn chất chuyển hóa, cho phép các tế bào CAR T có thể nhắm tới các khối u một cách hiệu quả. Họ đang lên kế hoạch đưa thuốc vào giai đoạn thử nghiệm trên người.

BS Thu Vân

(Theo THS)